アーカイブ:2月, 2008

Ngày nay, người ta có thể thấy các khách sạn xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhưng có mấy ai biết lịch sử ra đời của khách sạn như thế nào?

Ngày nay, người ta có thể thấy các khách sạn xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhưng có mấy ai biết lịch sử ra đời của khách sạn như thế nào?Có những khách sạn dành cho khách du lịch thám hiểm nằm ở bìa rừng Amazon, lặng lẽ trong những cơn mưa rừng. Có những khách sạn nằm đối diện dãy núi Everest mà khách du lịch chỉ có thể lên đó bằng đường bộ.

Báo New York Times gần đây còn đưa tin lý do mà người Thổ Nhĩ Kỳ cố tránh cuộc chiến tranh với người Iraq là vì không muốn làm phá hủy khách sạn cao cấp 187 phòng, trị giá 25 triệu đôla ở Dohuk, Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngành công nghiệp đón tiếp khách du lịch là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong những nền kinh tế quốc tế. Nhiều khách sạn sang trọng được xây dựng ở khắp nơi khiến người ta có thể dễ dàng quên mất đã có một thời, khách sạn là một trong những phát minh mới của thời đại.

Lịch sử của khách sạn gắn trải qua nhiều thăng trầm, gắn với một giai đoạn phát triển khó khăn của lịch sử xã hội loài người.

Tác phẩm “Quán rượu”
Tác giả: John Leweis Krimmel; 1813-14; Bảo tàng nghệ thuật Toledo.

Lịch sử của khách sạn hiện đại bắt đầu từ Hoa Kỳ. Trong hai thế kỷ là thuộc địa của người Anh, Hoa Kỳ là nơi đón nhiều đoàn người từ Vương quốc Anh đổ sang, kèm theo những nhu cầu ăn, ở – một trong những yêu cầu cơ bản của hoạt động khách sạn du lịch ngày nay. Có thể nói, vào thời đó, Hoa Kỳ là nước đón nhiều khách du lịch từ lục địa già nhất.
Những nhà nghỉ hay những quán trọ dành cho khách lúc đầu có qui mô nhỏ, kiến trúc tùy tiện, chỉ là chỗ trú chân đơn thuần. Những nhà trọ như thế gần như không có điểm gì phân biệt với những căn nhà bình thường, ngoài tấm biển hiệu treo bên ngoài.

Bên trong quán rượu, ông chủ các nhà trọ thường đứng sau những quầy bar phục vụ đồ uống – những hình ảnh này thường được thấy trong các truyện tranh hoặc tranh vẽ về thời kỳ này.

Buổi tối, hành khách được sắp xếp ngủ trong những phòng tách biệt với khu vực quán bar. Khách có thể ngủ chung phòng nhưng riêng giường.
“The Boston Exchange Coffee House & Hotel”
- Một trong những khách sạn được xây đầu tiên

Những khách sạn đầu tiên được xây dựng vào khoảng những năm 90 của thế kỉ 18. Đó là ý tưởng của những thương nhân giàu có ở các thành thị phát triển. Họ theo đuổi một lý tưởng là biến nước Mỹ nông thôn thành một trung tâm thương mại trong tương lai, với cơ sở hạ tầng liên quan đến du lịch được đầu tư (đồng thời, họ cũng hi vọng sẽ kiếm được lợi ích cá nhân thông qua việc đẩy giá bất động sản lên cao).
Những khách sạn này được thiết kế theo kiến trúc rất riêng, độc đáo, phòng khách sang trọng với những quầy bar đắt tiền, phòng ngủ trang bị đầy đủ nội thất đẹp và riêng biệt.
Sơ đồ khách sạn “The Boston Exchange Coffee House & Hotel”, tầng 4
Mặt khác, việc xây dựng những khách sạn từ thuở sơ khai như khách sạn The Union Public (xây dựng năm 1793 ở Washington, 11 gian, 12 phòng, kiến trúc khỏe khoắn) hay khách sạn New York (mở cửa năm 1797, 137 phòng, kiến trúc kiểu cách, hợp thời trang và là tòa nhà cao hơn tất cả các nhà thờ xung quanh đó)… đều là những bước đi thử nghiệm đầu tiên và dò dẫm, chưa có kế hoạch cụ thể của ngành kinh doanh khách sạn.
Từ thời khách sạn Boston Exchange, người ta mới chỉ sắp xếp các không gian sinh hoạt một cách lộn xộn, những phòng ngủ xếp cạnh những phòng lớn hơn, không đánh số, gọi là những phòng lớn, hay đại sảnh, phòng tập họp chung…

Những khách sạn thế hệ thứ nhất này được xây dựng trên sự suy đoán và có ý đầu cơ của những ông chủ giàu, do vậy nó thường quá lớn so với lượng khách du lịch có nhu cầu sử dụng.

Kết quả là, hầu hết các ông chủ tư nhân đều đi đến vỡ nợ và và trở thành những nhà đầu tư phá sản, có trường hợp phải đi tù.

Do vậy, trong khi những khách sạn thời kỳ đầu và trụ vững được sau những thất bại tài chính đã mở đường cho một phong cách xây dựng mới ở Hoa Kỳ.

Khách sạn: “The Tremont House, Boston.”
Chỉ đến khoảng những năm 20 của thế kỉ 19, thì người Mỹ mới lấy lại được tinh thần và dũng cảm để đảm nhận trách nhiệm tái xây dựng lại những khách sạn lớn.
Vào thời điểm đó, các thành phố đua nhau xây dựng khách sạn, tạo ra sức cạnh tranh khủng khiếp. Họ đầu tư xây dựng kênh đào, xây dựng đường ray xe lửa riêng…tạo ra một thế hệ khách sạn mới, với điều kiện cơ sở vật chất được đầu tư kỹ lưỡng.

Lãnh đạo các thành phố hết sức ủng hộ cho các kế hoạch xây dựng các khách sạn ở thành phố mình. Liên tiếp sau đó là sự ra đời của khách sạn Baltimore (1826), khách sạn Quốc gia Washington (1827), khách sạn Philadelphia”s United States (1828), và Boston Tremont (1829).

Nhiệt huyết xây dựng này đã tạo ra rất nhiều khách sạn đẹp trong thế kỷ 19 nhưng ít nhiều gây ra lạm phát cho những năm sau.

6. Rất nhiều khách sạn với kiến trúc hiện đại đã ra đời vào những năm này. Các khách sạn bắt đầu xây hai đầu lối ra vào, có tiền sảnh và quầy tiếp tân, phòng đại lễ, phòng họp và phòng giao dịch. Các kiến trúc sư còn quyết định đặt các phòng ngủ tách biệt với khu vực chung của khách sạn để khi khách lên phòng nghỉ thì không bị tiếng ồn phát ra từ những phòng chung làm phiền. Các phòng đều được đánh số thứ tự – điều này không khác lắm so với thời hiện đại.
Khách sạn: The United States Hotel in Saratoga Springs, New York, USA
Những khách sạn của thế kỷ 19 có phong cách độc đáo riêng không phải chỉ bởi dáng vẻ cấu trúc của nó, mà còn bởi phong cách mang đặc trưng tính cách của xã hội Mỹ. Các khách sạn của Hoa Kỳ trở thành những nơi vô cùng nổi tiếng.
Những ông chủ khách sạn giờ đây không chỉ thu lợi từ tiền thuê phòng của khách du lịch, mà còn thu hút dân địa phương tới thưởng thức các món ăn ngon và đồ uống đặc biệt.

Họ phục vụ công chúng bằng những bộ đồ ăn sang trọng, trên những bộ bàn ghế đắt tiền và phục vụ chu đáo. Khách đến với khách sạn có thể gặp gỡ, bàn công chuyện, khiêu vũ hay giải trí trong những phòng lớn. Điều đặc biệt là các khách sạn tiếp đón và phục vụ tất cả các loại người, thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, miễn là họ có khả năng chi trả.
Phòng ăn ở khách sạn Fifth Avenue Hotel, New York City
Tính dân chủ xã hội trong các khách sạn ở Mỹ là một đặc trưng và bị coi là kỳ quặc đối với khách du lịch đến từ bên kia Đại Tây Dương. Các khách sạn ở châu Âu thì được thiết kế để khách du lịch được thoải mái và riêng biệt trong phòng nghỉ của họ. Phong tục truyền thông của người châu Âu là để giới quí tộc tùy ý lựa chọn xem họ có thích giao du với người dân bình thường hay không.
Vì vậy, khi đến thăm nước Mỹ, người châu Âu vô cùng phẫn nộ trước sự pha tạp của các khách sạn, đặc biệt là tình trạng hỗn độn ở những phòng sinh hoạt chung như ở Mỹ.
Khách sạn Victoria ở Berlin, Đức.
Cho dù người châu Âu cảm thấy không được tôn trọng bởi lối văn hóa tập thể ở các khách sạn Mỹ nhưng dần dần chính họ cũng bị du nhập văn hóa ấy.
Tất nhiên những khách sạn chấp nhận văn hóa Mỹ thì thường đón tiếp khách đến từ Mỹ.

Ví dụ vào năm 1850, báo chí Anh quốc đã nhắc đến một khách sạn trong lòng thủ đô London với cái tên “Quán bar của người Mỹ” và mô tả sự sang trọng của khách sạn “như một tiệm cắt tóc”.

Đến giữa thế kỷ 19, những nhà quan sát châu Âu mới chịu thừa nhận người Mỹ chính là ông tổ của ngành khách sạn hiện đại và là người tiên phong trong nghệ thuật giữ khách.

Năm 1875, một người khách du lịch đã kết luận: “Người Mỹ đã mở ra kỷ nguyên mới cho ngành khách sạn. Hệ thống khách sạn do người Mỹ xây dựng sẽ lan ra khắp thế giới.”

Khách sạn Blackstone Hotel, Chicago, USA
Hệ thống khách sạn ở Mỹ có tính cách mạng rất cao bởi vì các ông chủ khách sạn đã sớm phát hiện ra đặc tính quan trọng nhất trong ngành kinh doanh dịch vụ là chính là sự hiếu khách.
Họ tập trung khai thác tối đa mối quan hệ tương tác với khách hàng nói chung hơn là chỉ chú trọng ưu tiên tập khách hàng là những ông chủ giàu có.

Nhưng trong khi hệ thống khách sạn ở Mỹ ngày càng mở rộng ra khắp thế giới thì vẫn có những điểm hạn chế. Ví dụ như không phải người dân nào cũng chấp nhận được giá phục vụ đắt đỏ ở một số khách sạn hàng đầu hoặc một số người chủ khách sạn da trắng từ chối khách da màu hoặc khách là người Do Thái.

Cảnh một người da màu bị cần tìm phòng khách sạn ở Atlanta (ảnh chụp năm 1962)
Chỉ đến thế kỷ 20 thì hệ thống khách sạn ở Mỹ mới thực sự dân chủ. Bắt đầu từ năm 1908, ngành kinh doanh khách sạn tuyên bố họ sẽ phục vụ bất cứ ai miễn là họ có khả năng chi trả, đồng thời họ đề nghị giá phục vụ ở mức chấp nhận được. Từ đó, ngành kinh doanh khách sạn ở Mỹ càng phát triển mạnh mẽ.
Năm 1963, Martin Luther King có một bài diễn thuyết mang tên: “I have a dream” (Tôi có một giấc mơ) trong đó tuyên bố quyền tự do bình đẳng giữa người da đen và người da trắng, trong đó có nhắc đến ý “chúng ta, hành lý nặng trĩu trên vai, mệt mỏi sau những chuyến đi mà không tìm được nhà trọ hay khách sạn nào đồng ý mở cửa để dừng chân…”.

Chính bài diễn văn này đã góp phần giúp Hội đồng bảo vệ Quyền con người được thông qua vào năm 1964, trong đó tôn trọng quyền được phục vụ tại các khách sạn của người da đen.

Khách sạn làm bằng băng đá ở Québec, Canada
Ngày nay, khách sạn ở khắp nơi trên thế giới ngày một mở rộng và trở nên đa dạng. Những khách sạn nổi tiếng nhất là những khách sạn nằm ở Canada và Thụy Điển, được làm bằng băng đá, hoặc khách sạn ở Miami được ví như khách sạn 6 sao.
Nhưng những khách sạn đặc trưng nhất có thể là những khách sạn ở miền tây Trung Quốc hoặc ở tận Iraq.

Có nhiều nơi trên trái đất có thể chưa có được sự tự do và dân chủ như ở Hoa Kỳ, nhưng chắc chắn họ cũng đã được truyền tải phần nào tinh thần ấy thông qua những khách sạn có mặt trên khắp đất nước họ. (Theo Tuần Việt Nam)
(vietducinfo) 

Các sự cố với chuyên cơ của nguyên thủ (5)

Những chiếc máy bay tổng thống luôn được ưu tiên số một tại mỗi quốc gia, nhưng cũng có những chiếc vẫn được sử dụng ngay cả khi đã quá cũ kỹ như chuyên cơ Fokker F28 của nhà lãnh đạo Colombia.
Colombia là một trong những quốc gia có chuyên cơ sớm nhất trên thế giới. Năm 1933, nước này mua một chiếc Junkers Ju 52/3M hiện đại bậc nhất vào thời đó làm phương tiện dành riêng cho tổng thống. Chiếc chuyên cơ đã phục vụ cựu tổng thống Colombia Enrique Olaya Herera cho tới tận khi hết hạn sử dụng vào năm 1950.

Chiếc chuyên cơ nhiều tai tiếng Fokker F28-1000 Fellowship chở Tổng thống Colombia Alvaro Uribe thăm Panama ngày 13/3/2005. Đây là lần cuối cùng nó phục vụ vì sau đó chuyên cơ của Colombia được thay bằng chiếc Boeing 737-700 BBJ. Ảnh: Airliners.

Từ năm 1953 đến năm 1972, Colombia mua một chiếc hiện đại hơn là Douglass C-54 Skymaster làm chuyên cơ cho nhà độc tài khi đó là Gustavo Rojas Pinil.

Kể từ năm 1972, chuyên cơ của Colombia được thay bằng một chiếc Fokker F28-1000 Fellowship mới toanh dưới thời Tổng thống Misael Pastrana Borrero (1970-1974). Chiếc máy bay này có một tiếng xấu trong thời gian phục vụ Tổng thống Ernesto Samper Pizano (1994-1998).

Ngày 22/9/1996, người ta phát hiện có 3,5 kg heroin được giấu bên trong chiếc chuyên cơ Fokker F28 của Colombia, chỉ vài giờ trước khi nó cất cánh đi New York để đưa Tổng thống Samper dự họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

Vụ rắc rối trên trở nên rất nghiêm trọng khi Mỹ quyết định hủy visa nhập cảnh của ông Samper với cáo buộc ông này có liên quan đến các trùm ma túy được cho là đã ủng hộ tài chính cho chiến dịch tranh cử của ông. Cuối cùng tổng thống Colombia đến Mỹ bằng một visa ngoại giao trên một chiếc máy bay thuê.

Chiếc chuyên cơ mới Boeing 737-700 BBJ của Tổng thống Uribe, tháng 9/2005. Ảnh: Airliners.

Năm 2005, tổng thống mới của Colombia là Alvaro Uribe Velez hối thúc quốc hội mua một chiếc máy bay mới do lo ngại đến vấn đề an toàn và môi trường. Sau 33 năm phục vụ, chiếc Fokker F28 đã quá cũ kỹ và gây tiếng ồn nghiêm trọng và bị người Colombia đặt cho biệt hiệu là Bình cà phê của tổng thống.

Hơn nữa, trong rất nhiều trường hợp chiếc chuyên cơ nói trên đã suýt va chạm trong khi chuyên chở tổng thống đi công tác. Chiếc Fokker F28 này đã hơn một lần bị phạt vì vi phạm quy định về tiếng ồn tiêu chuẩn của các sân bay. Thậm chí nó đã từng bị cấm hạ cánh do gây ô nhiễm môi trường.

Mãi tới tháng 7/2005, chiếc Fokker F28 nói trên mới được nghỉ hưu và chính phủ Colombia mua một chiếc Boeing 737-700 BBJ làm chuyên cơ cho tổng thống. Mật mã liên lạc của chiếc máy bay mới này là FAC 0001 hay Fuerza Aerea Colombiana 0001 (tức Colombian Air Force 0001).

Máy bay của tổng thống Brazil

Chiếc chuyên cơ Boeing KC-137 của tổng thống Brazil tại Vienna, Áo. Ảnh: Airliners.

Brazil có chuyên cơ cho tổng thống kể từ năm 1941, khi ông Getulio Vargas cho mua một chiếc Lockheed Lodestar để sử dụng. Năm 1959, Tổng thống Jusscelino Kubitschek thay thế máy bay này bằng hai chiếc Vickers Viscounts.

Nhưng đến năm 1967, nhà lãnh đạo mới của Brazil là Artur da Costa e Silva quyết định mua một chiếc BAC-111 làm chuyên cơ. Nó phục vụ cho đến năm 1976 khi Tổng thống Ernesto Geisel cho thay bằng hai chiếc Boeing 737-200. Cũng chỉ 10 năm sau, không quân Brazil thiết kế lại một trong 4 chiếc KC-137 của họ (phiên bản quân sự của chiếc Boeing 707) thành chiếc chuyên cơ phục vụ tổng thống.

Chiếc Boeing KC-137 này được sử dụng cho tới tháng 5/2003 thì Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva cho mua một chiếc Airbus A319 Corporate Jetliner hoàn toàn mới làm chuyên cơ. Chiếc máy bay đặc biệt này được gọi bằng biệt danh FAB Uno (Brasilian Air Force One).

Chiếc chuyên cơ mới FAB Uno Airbus A319 mới của Brazil. Ảnh: Airliners.

Chiếc chuyên cơ mới của Brazil còn có tên gọi khác là Santos Dumont và không đụng hàng với những chiếc Airbus A319 tiêu chuẩn nhờ những thiết kế đặc biệt về an ninh và nội thất. Cabin máy bay được chia thành 3 khu vực tách biệt với chức năng khác nhau.

Khu vực thứ nhất gần buồng lái là nơi dành riêng cho tổng thống, gồm một phòng làm việc, một phòng nghỉ sang trọng và một phòng họp. Khu vực kế tiếp nằm được bố trí thành 8 chỗ ngồi hạng nhất dành cho quan chức đặc biệt đi theo. Khu vực cuối cùng ở đuôi máy bay có 20 ghế hạng doanh nhân dành cho phóng viên và đoàn tùy tùng.

Trên chiếc FAB Uno còn được trang bị các thiết bị quân sự như những quả pháo sáng để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Chuyên cơ này còn có một phòng cấp cứu hoàn chỉnh và 3 phòng đặc biệt nối trực tiếp với vệ tinh liên lạc của quân đội Brazil Siscomis, dùng để chứa các loại tại liệu, hình ảnh và băng ghi âm tối mật.

Khu vực thứ hai trên chiếc chuyên cơ FAB Uno gồm 8 ghế hạng nhất, dành riêng cho các quan chức và khách đặc biệt. Ảnh: Wikipedia.

Chuyên cơ của tổng thống Argentina

Argentina có một đơn vị riêng chuyên phục vụ các chuyến bay nhà nước mang tên Agrupación Aérea Presidencial, điều hành một phi đội nhỏ những chiếc máy bay và trực thăng đặc biệt dành cho tổng thống cùng gia đình và các quan chức cấp cao của chính phủ.

Mặc dù các chuyên cơ thuộc sự quản lý của không quân Argentina nhưng đơn vị trên nằm dưới sự điều hành trực tiếp của bộ phận an ninh bảo vệ tổng thống Casa Militar. Một số phi công dân sự cũng được trưng dụng để lái những chiếc chuyên cơ này.

Máy bay chính thức của nhà lãnh đạo Argentina có vỏ ngoài được sơn những vạch màu trắng và xanh theo quốc kỳ nước này. Chuyên cơ chính của Argentina hiện nay là một chiếc Boeing 757-23A có biệt danh Tango 01, bắt đầu được đưa vào phục vụ năm 1995 thay cho một chiếc Boeing 707-387C.

Airliners.
Boeing 707-387C, chuyên cơ cũ của tổng thống Argentina. Chiếc máy bay này đang chở Tổng thống Carlos Menem tới thăm Áo tháng 12/1991. Ảnh: Airliners.

Trong hơn một thập kỷ qua, chiếc Tango 01 trở thành đề tài của các cuộc tranh cãi chính trị, đặc biệt là trong cuộc bầu cử năm 1999. Báo chí và nhiều chính trị gia chỉ trích chiếc chuyên cơ này là quá xa hoa và đôi khi thực hiện những mục đích không chính thức như phục vụ gia đình, bạn bè và các đồng minh của một số đời tổng thống.

Ngoài chiếc Tango 01, trong đội chuyên cơ của tổng thống Argentina hiện nay còn có hai chiếc Fokker F28 (biệt danh T-02 và T-03), một chiếc Learjet 60 (T-10) và một chiếc Rockwell Sabreliner (T-11). Tư lệnh không quân Argentina cũng thường sử dụng những chiếc máy bay này.

Phi đội trực thăng của nhà lãnh đạo Argentina có hai chiếc gồm một chiếc Sikorsky S-70 (biệt danh H-01) và một chiếc Sikorsky S-76 (biệt danh H-02). Bên cạnh đó, những chiếc Bell 212 của quân đội cũng luôn sẵn sàng phục vụ tổng thống và các quan chức bất cứ lúc nào.

Các tổng thống Argentina từng nhiều phen thót tim khi đi trên những chiếc chuyên cơ. Ngày 19/9/1993, chiếc trực thăng chở Tổng thống Carlos Menem bị rơi khi đang thăm một địa phương trong nước nhưng may mắn không có thương vong. Ngày 1/4/1998, cũng Tổng thống Menem lại trải qua một khoảnh khắc nguy hiểm khi chiếc chuyên cơ Tango 01 gặp trục trặc vì gió mạnh khi hạ cánh xuống Wellington, trong một chuyến thăm chính thức New Zealand.

Chiếc chuyên cơ Tango 01
Chiếc chuyên cơ Tango 01 tại Buenos Aires ngày 18/12/2003. Ảnh: Airliners.

Hôm 19/10/2004, chiếc Tango 01 hạ cánh khẩn cấp thành công xuống căn cứ không quân El Palomar ngay sau khi cất cánh từ thủ đô Buenos Aires vì một động cơ bị cháy. Chiếc động cơ này sau đó được đưa tới Israel đại tu toàn bộ và hoạt động trở lại từ giữa năm 2005.

Trong thời gian chiếc chuyên cơ phải nghỉ bảo dưỡng, Argentina thuê hai chiếc Boeing 747 của hãng hàng không quốc gia Aerolineas Argentinas để làm phương tiện công cán nước ngoài cho tổng thống. Ngay cả khi Tango 01 hoạt động trở lại, Tổng thống Nestor Kirchner vẫn tiếp tục sử dụng những chiếc Boeing 747 đi thuê cho các chuyến bay tầm xa. 

Chuyên cơ của Peru

Chuyên cơ Boeing 737-528 của Tổng thống Peru Alejandro Toledo đang hạ cánh xuống căn cứ không quân ở thủ đô Lima. Ảnh: Airliners.

Máy bay chính thức của tổng thống Peru là chiếc Boeing 737-528 được mua từ thời ông Alberto Fujimori còn cầm quyền. Vỏ ngoài của chiếc chuyên cơ được lấy cảm hứng từ lá quốc kỳ Peru với màu chủ đạo là trắng. Dòng chữ đen Republica del Peru nổi bật trên nền trắng ở thân máy bay, cạnh hình quốc huy.

Không quân Peru được giao nhiều vụ điều hành chiếc máy bay phục vụ các chuyến công du của tổng thống với số hiệu FAP 356. Ngoài chiếc Boeing, trong phi đội chuyên cơ của Peru còn có những chiếc DC-8 cũ kỹ đang được không quân nước này duy tu và quản lý.

Đình Chính tổng hợp

Bí mật về chuyên cơ của các nguyên thủ (4)

Một trong những chuyện gây tranh cãi nhất liên quan đến chuyên cơ là trường hợp Tổng thống Zaire Mobuto Sese Seko. Chiếc Concorde thuê không chỉ dùng để ông đi công cán mà còn phục vụ vợ con nhà độc tài này đi mua sắm tận châu Âu.

Các chuyên cơ của Zaire

Mobutu Sese Seko sinh năm 1930 và mất ngày 7/9/1997, làm tổng thống Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo) trong suốt 32 năm. Nhà độc tài này giành được quyền lực qua một cuộc đảo chính quân sự năm 1965 và sau đó bị lật đổ vào năm 1997. 

Chiếc chuyên cơ Boeing 707-382B của ông Mobutu đang nằm mốc meo tại Lisbon, Bồ Đào Nha. Ảnh: Airliners.

Vào đầu những năm 1990, Tổng thống Mobutu thuê hẳn một chiếc siêu âm Concorde của Air France và đưa về Gabadolite “ăn trực nằm chờ” phục vụ các nhu cầu đi lại của ông. Bên cạnh đó, một nhiệm vụ quan trọng của chiếc chuyên cơ này là đưa những người trong gia đình tổng thống tới các thành phố lớn ở châu Âu mua sắm.

Quốc gia không lấy gì làm giàu có ở phía nam châu Phi này còn có một chiếc Boeing 707-382B dùng làm chuyên cơ và rất hiếm khi được tổng thống đoái hoài. Suốt từ năm 1996 đến nay nó được cất giữ tại Lisbon, Bồ Đào Nha và xuống cấp dần theo thời gian. Ngoài ra, Zaire còn có một chiếc Boeing 727 và một chiếc McDonnel Douglas DC-8-72 chuyên phục vụ lãnh đạo.

Chuyên cơ của Kenya

Tổng thống Kenya Daniel Arap Moi có một chiếc Fokker 70 để sử dụng riêng. Chiếc chuyên cơ được chính phủ của ông cho mua mới hoàn toàn vào năm 1995. Quyết định này bị chỉ trích là quá tốn kém, trong khi GDP của Kenya rất thấp, nợ nước ngoài nhiều và nạn đói nghèo còn tràn lan.

Đây là dòng máy bay sang và hiện đại nhất lúc đó của nhà sản xuất Fokker với giá xấp xỉ 50 triệu USD. Chiếc máy bay có 70 chỗ ngồi nguyên bản được thiết kế lại thành 28 chỗ. Trên đó có 3 căn phòng sang trọng, một phòng tắm và một phòng bếp. Nó cũng được trang bị hệ thống thông tin liên lạc tối tân.

Trước khi mua chiếc Fokker 70, Tổng thống Kenya Daniel Arap Moi thường thuê chuyến của hãng hàng không Anh British Airways để thực hiện các chuyến công du nước ngoài.

Chuyên cơ của tổng thống và thủ tướng Pakistan

Airliners.
Chuyên cơ Airbus A310-308 chở Tổng thống Pervez Musharraf rời Canberra, sau chuyến thăm chính thức tới Australia ngày 15/6/2005. Ảnh: Airliners.

Chính phủ Pakistan có một nhà vận chuyển hàng không riêng chuyên làm nhiệm đưa đón các quan chức cấp cao. Cơ quan này điều hành hai chiếc chuyên cơ thường được gọi là Pak One, gồm một chiếc Airbus A310-308 và một chiếc Gulfstream Aerospace G-IV Gulfstream VI-SP để tổng thống và thủ tướng sử dụng.

Trước khi những chiếc chuyên cơ nói trên được đưa vào khai thác, chiếc máy bay đầu tiên dành cho tổng thống Pakistan là Boeing 707. Cựu tổng thống Muhammad Zia-ul-haq thì sử dụng một chiếc Lockheed C-130 để đi lại. Còn hai cựu thủ tướng Nawaz Sharif và Benazir Bhutto dùng một chiếc Boeing 737.

Không quân Pakistan có kế hoạch mua thêm một chiếc Gulfstream V để làm phương tiện vận chuyển cho các quan chức chính phủ cao cấp và những thượng khách ngoại quốc. Tất cả chuyên cơ của Pakistan đều đỗ tại căn cứ không quân Chaklala, gần thủ đô Islamabad.

Chiếc Gulfstream Aerospace G-IV Gulfstream VI-SP, một trong hai chuyên cơ được sử dụng nhiều nhất của Pakistan. Ảnh: Airliners.

Gulfstream V là một loại máy bay riêng khá thông dụng hiện nay và là một sản phẩm của hãng Gulfstream Aerospace, một công ty con của tập đoàn chuyên sản xuất thiết bị quốc phòng Mỹ mang tên General Dynamics.

Chuyên cơ của Ấn Độ

Ấn Độ sử dụng hãng Air India và Indian Airlines làm nhà chuyên chở các quan chức cấp cao đi công cán nước ngoài. Air India dùng một chiếc Boeing 747-237B làm chuyên cơ cho thủ tướng và tổng thống với số hiệu liên lạc AI 001. Các bộ trưởng cũng có thể đi AI 001 nhưng phải được thủ tướng cho phép.

Airliners.
Chuyên cơ Boeing 747-237B của hãng Air India chở thủ tướng Ấn Độ. Ảnh: Airliners.

Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ còn mua 3 chiếc máy bay hạng sang Boeing BBJ làm chuyên cơ trong những trường hợp khác nhau. Khi trở thành máy bay VIP, những chiếc chuyên cơ này có thể chở 10 đến 30 người thẳng từ Ấn Độ tới Anh, Nhật Bản hay các địa điểm khác.

Chuyên cơ của Ấn Độ được trang bệ hệ thống an ninh hiện đại có thể làm chệch hướng các quả tên lửa. Mỗi chiếc chuyên cơ Boeing BBJ tiêu tốn của chính phủ khoảng 60 triệu USD. Ấn Độ cho biết họ mua phiên bản đặc biệt của Boeing BBJ với thân máy bay là của dòng Boeing 737-700 còn cánh là của dòng Boeing 737-800.

Boeing.
Nội thất tiêu chuẩn một chiếc Boeing BBJ. Ảnh: Boeing.

Rắc rối chuyện chuyên cơ của Hy Lạp

Chính phủ Hy Lạp đang sử dụng một chiếc Gulfstream V làm chuyên cơ cho thủ tướng và do lực lượng không quân điều hành. Chiếc máy bay này do Thủ tướng Costas Simitis (cầm quyền từ 1996-2004) mua, nhằm phục vụ cho thời kỳ Hy Lạp làm chủ tịch EU năm 2003 và chuẩn bị cho Olympic Athens năm 2004.

Trong hai thập kỷ trước đó, Hy Lạp có hai chiếc chuyên cơ và chúng đã gây ra những tranh cãi gay gắt. Trong số này có một chiếc Dassault Falcon 900, vốn liên tục mắc các trục trặc kỹ thuật. Đỉnh điểm của những sai sót là vụ tai nạn ngày 9/9/1999 tại Bucharest, làm chết Thứ trưởng ngoại giao Giannos Kranidiotis.

Chuyên cơ
Chiếc chuyên cơ Gulfstream V chở Thủ tướng Costas Simitis tới thăm Malta ngày 13/5/2003. Ảnh: Airliners.

Do đó, ngay từ năm 1992 chính phủ của Thủ tướng Constantine Mitsotakis quyết định bổ sung một chuyên cơ khác vốn được thiết kế lại từ chiếc Boeing 727. Việc làm này gặp phải sự chỉ trích vì bị coi là quá phung phí. Người kế nhiệm ông Mitsotakis là Andreas Papandreou quyết định chuyển chiếc Boeing 727 thành một máy bay thuê vào năm 1994.

Bí mật về chuyên cơ của các nguyên thủ (3)

Nội thất của những chiếc chuyên cơ được thiết kế đặc biệt, thậm chí còn theo gu của từng nhà lãnh đạo. Chiếc máy bay của quốc vương Brunei giống như một cung điện trên không thể hiện rõ điều này.
Cung điện bay của Quốc vương Brunei

Quốc vương Brunei sở hữu một số máy bay riêng được thiết kế thành chuyên cơ để đưa ông và các nhân vật quan trọng khác trong hoàng gia đi công cán. Trong số này, chiếc Boeing 747-430 V8-ALI được sử dụng thường xuyên nhất.

Chiếc Boeing 747-437 của quốc vương Brunei đang cất cánh từ sân bay Helsinki, Phần Lan, ngày 11/9/2006. Ảnh: Airliners.

Boeing 747 là loại phi cơ chở khách thông dụng và có khả năng chở nhiều người nhất trên thế giới hiện nay. Nó bắt đầu được đưa vào khai thác thương mại năm 1970 và giữ kỷ lục là máy bay chở khách lớn nhất thế giới trong hơn 35 năm mới bị chiếc Airbus A380 qua mặt.

Bên cạnh đó còn có những máy bay khác luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu đi lại của quốc vương Brunei. Đó là một chiếc Airbus A340-200 và một Boeing 767-200ER. Ngoài ra, ông còn sở hữu chiếc Boeing 747SP V8-AC1 nhưng nó đã được bán cho tập đoàn Bahrain Amiri Flight.

Chuyên cơ Airbus A340-200 của quốc vương Brunei. Ảnh: Airliners.

Riêng nội thất của chiếc Airbus A340-200 không giống bất cứ máy bay nào khác trên thế giới. Nó được một công ty Mỹ thiết kế lại bằng các chất liệu cực kỳ sang trọng. Những trang thiết bị vốn thường thấy trong các cung điện hay khách sạn siêu sang trọng đã được ứng dụng, biến chuyên cơ của ông thành một “cung điện bay”.

Dưới đây là những bức ảnh về nội thất của chiếc chuyên cơ Airbus A340-200.

Các bồn rửa trong phòng vệ sinh trên máy bay được dát vàng sáng choang. Ảnh: Aircraft Resource Center.
Bộ bàn tiếp khách trên máy bay. Ảnh: Aircraft Resource Center.
Phòng ngủ giống trong khách sạn 5 sao. Ảnh: Aircraft Resource Center.
Hành lang trải thảm. Ảnh: Aircraft Resource Center.

Máy bay chở tổng thống Philippines

Phi đội vận tải số 250 của không quân Philippines được giao nhiệm vụ đảm bảo chuyện đi lại bằng đường không của tổng thống nước này diễn ra thuận lợi và an toàn. Ngoài ra đơn vị còn phụ trách việc vận chuyển các quan chức chính phủ, nguyên thủ quốc gia đến thăm và các thượng khách của đất nước.

Phi đội chuyên cơ của Philippines gồm một chiếc Fokker F28 chuyên phục vụ các chuyến bay trong nước của tổng thống, một chiếc Fokker F-27 Friendships, 4 chiếc trực thăng Bell 412, 3 trực thăng Sikorsky S-76, hai trực thăng Aerospatiale SA-330 Puma và một trực thăng Sikorsky S-70.

Một chiếc Boeing 737-322 thuê của hãng Philippines Airlines đang chở tổng thống nước này hạ cánh xuống sân bay Kuala Lumpur, tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN từ 12 đến 14/12/2005. Ảnh: Airliners.

Đối với các chuyến công du nước ngoài của tổng thống, không quân Philippines huy động một chiếc Bombardier Learjet 60 hoặc thuê từ hãng hàng không Philippines Airlines. Trước năm 1962, không quân nước này thường thuê chuyến của hàng không Mỹ Pan America World Airways.

Đối với các chuyến bay tầm ngắn, máy bay thuê dành cho tổng thống thường là Boeing 737 và Airbus A320. Còn khi thực hiện các chuyến bay tầm trung và tầm xa, một chiếc Boeing 747-400 hoặc Airbus A340-300 sẽ được huy động.

Philippine Airlines quy định, bất cứ chuyến bay nào chở tổng thống nước này đều được cấp mật khẩu liên lạc là PR 001. 

Chuyên cơ của Thái Lan

Phi đội vệ binh hoàng gia số 602 của không quân Thái Lan phụ trách một chiếc Airbus A310-300 và một chiếc Boeing 737-200 làm chuyên cơ chở các VIP. Những chiếc máy bay này sẽ được thay thế bằng một chiếc Boeing 737-800 kể từ cuối năm 2006.

Ngoài ra, chính phủ Thái Lan còn sử dụng một chiếc Airbus A319CJ được đặt tên là Thai Ku Fah làm chuyên cơ. Bên cạnh đó, Bangkok cũng thuê máy bay của hãng hàng không quốc gia Thai Airways để phục vụ các quan chức cao cấp.

Đây là chiếc Airbus A340-642 thuê của hãng Thai Airways chở ông Thaksin Shinawatra đang hạ cánh xuống New York để dự họp tại Liên Hợp Quốc. Trong khi đó một cuộc đảo chính hôm 19/9 tại quê nhà đã lật đổ chính phủ của ông. Ảnh: Airliners.

Bên cạnh các máy bay phản lực, một đơn vị khác của không quân Thái Lan là phi đội vệ binh hoàng gia số 402 còn điều hành một tổ trực thăng Bell 412ST để phục vụ hoàng gia. Chúng luôn được bảo dưỡng cẩn trọng và thay mới ngay khi sắp hết hạn phục vụ các chuyến bay VIP.

Chuyên cơ của Malaysia

Thủ tướng Malaysia và các thành viên cao cấp của hoàng gia sử dụng một chiếc máy bay Boeing 737-7H6 BBJ. Không quân Malaysia là cơ quan phụ trách điều hành chiếc chuyên cơ có số hiệu M53-1 được sơn phía dưới lá quốc kỳ ở phía đuôi này.

Trước khi trở thành chuyên cơ, chiếc Boeing nói trên thuộc sở hữu của hãng hàng không Malaysia Airlines và số đăng ký là 9M-BBJ. Chính phủ mua chiếc Boeing này vào năm 2003 để làm phương tiện phục vụ các quan chức cấp cao.

Chuyên cơ Boeing 737-7H6 BBJ của Malaysia đang đỗ tại sân bay Kota Bharu khi chở thủ tướng nước này tới thăm bang Kelantan. Ảnh: Airliners.

Chiếc Boeing 737-7H6 BBJ được thiết kế lại từ bên ngoài cho tới nội thất để phù hợp với công năng sử dụng mới. Vỏ ngoài của chuyên cơ được sơn theo tông màu tiêu chuẩn dành cho máy bay VIP do không quân hoàng gia Malaysia quy định.

Ngoài ra, thủ tướng Malaysia còn có một chuyên cơ khác là Bombardier BD-700-1A10 Global Express cũng do không quân quản lý. Chiếc máy bay này có kích thước nhỏ hơn nhưng có cùng tông màu bên ngoài như chiếc Boeing 737-7H6 BBJ. Nó có biệt danh là Perdana Zero One.

Chuyên cơ Perdana Zero One đang chở Thủ tướng Badawi quay lại căn cứ không quân Subang, sau chuyến thăm nửa ngày tới thành phố Kuching ngày 5/8/2006. Ảnh: Airliners.

Bí mật về chuyên cơ của các nguyên thủ (2)

Thủ tướng Anh Tony Blair đang làm việc trên một chiếc máy bay thuê khi đi công cán. Ảnh: PA.

Mỗi nước có một chính sách khác nhau trong việc mua sắm chuyên cơ cho các nhà lãnh đạo của mình. Nhưng không phải bao giờ việc này cũng gặp thuận lợi mà trường hợp tại Anh là một ví dụ.
Việc đi lại bằng đường hàng không của Hoàng gia Anh và các quan chức cao cấp do phi đội số 32 của không quân hoàng gia (RAF) đảm nhiệm. Bên cạnh đó, những VIP như thủ tướng và các bộ trưởng thường xuyên phải sử dụng các máy bay thuê hoặc cả những chuyến bay thương mại bình thường để đi lại.

Chính phủ nước này đang có kế hoạch mua hai chiếc máy bay đặc biệt chuyên đưa đón các VIP của hoàng gia và chính phủ. Giới truyền thông Anh gọi chúng là Blair Force One, ám chỉ Thủ tướng Tony Blair và chiếc Air Force One của tổng thống Mỹ.

Theo nhiều nguồn tin, một trong số những chiếc chuyên cơ trên sẽ là loại máy bay tầm xa có khoảng 70 chỗ ngồi. Còn chiếc thứ hai có kích thước nhỏ hơn, chỉ có trên dưới 15 chỗ và chuyên dành cho những chuyến bay ngắn.

Kế hoạch mua Blair Force One của Anh liên tiếp gặp sóng gió trên chính trường. Đề xuất về việc này được đưa ra vào năm 1998 và chính phủ của phe Công đảng kiên quyết ủng hộ việc mua một chiếc máy bay riêng cho các nhà lãnh đạo. Tuy nhiên nó trở thành đề tài chỉ trích của nhiều chính trị gia vì vấn đề tài chính.

Năm 2003, kế hoạch mua chuyên cơ lại được nhen nhóm khi Ủy ban an ninh và tình báo của Quốc hội Anh ủng hộ dùng máy bay riêng cho thủ tướng và bộ trưởng quốc phòng để đảm bảo an toàn. Tháng 12/2004 kế hoạch trang bị chuyên cơ được giao cho cố vấn Sir Peter Gershon nghiên cứu một cách tỉ mỉ.

Chiếc Boeing 777-236ER chở Thủ tướng Tony Blair thuê của hãng British Airways đang hạ cánh xuống Auckland, New Zealand. Ảnh: Airliners.

Theo đó chiếc máy bay mới phải được trang bị hệ thông liên lạc tối tân, có khả năng chuyên chở cả đội ngũ phóng viên tùy tùng cùng hệ thống an ninh hiệu quả nhất. Để giảm chi phí, những chiếc chuyên cơ này sẽ không được mua đứt mà là thuê dài hạn. Dự kiến nhanh nhất phải đến cuối năm 2007 chuyên cơ của Anh mới bắt đầu phục vụ.

Ước tính kế hoạch trên mỗi năm tiêu tốn 12,3 triệu bảng Anh và đắt hơn chi phí thuê máy bay hiện nay của giới lãnh đạo Anh khoảng 2,7 triệu bảng. Số tiền trả cho việc dùng các chuyên cơ mới nói trên sẽ do phía sử dụng chi trả, ví dụ văn phòng thủ tướng, Bộ Quốc phòng hay hoàng gia.

Tuy vậy, kế hoạch mua chuyên cơ vẫn tiếp tục bị nhiều nhóm chính trị “đánh đập” dữ dội. Đảng Bảo thủ chỉ trích đó là dự án lãng phí còn các chính trị gia khác lo ngại việc tiêu tốn tiền của người đóng thuế chỉ để giúp các quan chức đi lại cho “sành điệu”.

Bên cạnh đó, đảng Dân chủ Tự do và các tổ chức về môi trường như như Transport 200Friends of the Earth lên án kế hoạch trên vì lo ngại các tác động môi trường từ những chiếc máy bay phản lực riêng.

Cho đến nay Anh vẫn là nước duy nhất trong G8 chưa có chuyên cơ. Trong khi đó, báo cáo về kế hoạch mua máy bay mới cho lãnh đạo cũng chỉ ra rằng, phương thức dùng máy bay thuê hiện nay của Anh có nhiều rủi ro về an ninh và gây bất tiện cho chuyện công cán của các VIP như Thủ tướng Tony Blair.

Các chuyên cơ của Canada

Phi đội 437 thuộc Bộ tư lệnh không quân Canada đang điều hành một chiếc Airbus A310-300 đã được chuyển đổi thành máy bay chở VIP để phục vụ việc đi lại của thủ tướng, các quan chức chính phủ cao cấp và những thượng khách nước ngoài.

Đây là chiếc Bombardier Challenger do cựu thủ tướng Canada Jean Chretien thường sử dụng. Ảnh: Airliners.

Bên cạnh đó, phi đội số 412 của không quân Canada còn phụ trách 4 chiếc máy bay hiệu Bombardier Challenger 604 chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển các VIP của nước này.

Đây là một sản phẩm nội địa của Canada do hãng Bombardier Aerospace chế tạo. Bombardier là nhà sản xuất máy bay thương mại lớn thứ tư trên thế giới sau Boeing, Airbus và Embraer.

Phi đội chuyên cơ của các nhà lãnh đạo Pháp

Các quan chức cấp cao của Pháp đi lại bằng máy may do phi đội ETEC (tức phi đội vận tải, huấn luyện và kiểm tra), một đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, phụ trách. ETEC sử dụng 6 chiếc Falcon 900 để các nhà lãnh đạo công cán bên trong lục địa châu Âu và 2 chiếc Airbus A319 cho các chuyến bay tầm trung và tầm xa.

Chiếc chuyên cơ Airbus của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Airliners.
Chiếc chuyên cơ Airbus của Tổng thống Pháp Jacques Chirac đang được chuẩn bị cho một chuyến công cán của ông. Airliners.

Mới đây Pháp còn mua thêm 2 chiếc Airbus A340-200 của hãng hàng không Áo Austrian Airlines để phục vụ các nhà lãnh đạo đi công tác xa. Bên cạnh đó, chính phủ Pháp còn thuê máy bay của hãng Air France để phục vụ các VIP. Khi Concorde vẫn còn tung hoành trên bầu trời thì đây là sự lựa chọn quen thuộc nhất.

Các chuyên cơ của Đức

Những quan chức cao cấp của Đức sử dụng hai chiếc Airbus 310-304 để đi lại. Trước đây những chiếc phi cơ này thuộc sở hữu của hãng hàng không Đông Đức Interflug. Sau đó chúng được tập đoàn Lufthansa Technik thiết kế lại để trở thành máy bay chuyên chở VIP trong những chuyến bay tầm trung và tầm xa.

Airliners.
Chiếc chuyên cơ mang tên Theodor Heuss thường được dùng để chở tổng thống Đức. Ảnh: Airliners.

Hai chuyên cơ Airbus 310-304 của Đức được đặt tên là Konrad Adenauer (thủ tướng đầu tiên của Tây Đức sau Chiến tranh thế giới II) và Theodor Heuss (tổng thống đầu tiên của Đức).

Bên cạnh đó, một đơn vị đặc biệt của không quân Đức Flugbereitschaft còn điều hành 6 chiếc phản lực Challenger 601 và 3 chiếc trực thăng Eurocopter Cougar AS532 để phục vụ nhu cầu đi lại cho các quan chức chính phủ, quốc hội và quân đội.

Việc đi lại của các nhà lãnh đạo Italy và Vatican

Không quân Italy sử dụng hai chiếc Airbus Corporate Jet làm chuyên cơ cho các nhà lãnh đạo nước này. Trong số đó một chiếc được thiết kế thành 30 chỗ ngồi dành cho thủ tướng hoặc tổng thống đi lại. Chiếc kia có 50 chỗ ngồi cũng được sử dụng cho nhu cầu di chuyển của các quan chức chính phủ khác.

Ngoài ra, Italy còn sử dụng những chiếc máy bay có kích thước nhỏ hơn là Dassault Falcon 50 và Dassault Falcon 900 làm chuyên cơ. Hai chiếc trực thăng hiệu Agusta SH-3D Sea King do Mỹ sản xuất cũng được dành riêng cho tổng thống, các quan chức chính phủ và cả giáo hoàng sử dụng.

Chỗ ngồi được chuẩn bị đặc biệt dành cho Giáo hoàng Benedict XVI trên chiếc Boeing 737-45D thuê của hãng hàng không Ba Lan LOT, khi ngài từ thành phố Krakow của Ba Lan trở về Vatican ngày 28/5/2006. Ảnh: Airliners.

Riêng trường hợp của giáo hoàng, tất cả những chiếc máy bay mà người đứng đầu tòa thánh Vatican có mặt đều được gọi là “Shepherd One“. Theo truyền thống, giáo hoàng đến thăm một nước trên chiếc phản lực thuê của hãng Alitalia và khi trở về ngài sẽ đi trên chiếc máy bay thuê của hãng hàng không quốc gia vừa thăm viếng.

Ví dụ khi Giáo hoàng Benedict XVI trở về Vatican từ chuyến thăm thành phố Đức Cologne nhân Ngày Thanh niên thế giới năm 2005, ngài đã đi trên một chiếc Airbus A321 thuê của hãng hàng không Đức Lufthansa.

Bí mật về chuyên cơ của các nguyên thủ (1)

Bí mật về chuyên cơ của các nguyên thủ (1)

Mỗi chiếc máy bay khi chở những người đứng đầu nhà nước, chính phủ hay hoàng gia đều được coi là chuyên cơ. Những chiếc máy bay có trang bị rất đặc biệt và luôn nhận được quyền ưu tiên số một ở mọi nơi trên thế giới.

Air Force.
Chiếc Air Force One đang bay ngang qua đỉnh Rushmore, nơi có những bức tượng khổng lồ các tổng thống Mỹ tạc vào núi. Ảnh: US Air Force.

Chuyên cơ của tổng thống Mỹ

Hiện người đứng đầu Nhà Trắng sử dụng hai chiếc Boeing 747-200B đã được cải biến và mang số hiệu quân sự là VC-25A. Theo quy định, tín hiệu liên lạc của bất cứ chiếc máy bay nào đang chở tổng thống Mỹ đều có chữ One (Số một).

Do đó máy bay phản lực đi đường dài của lãnh đạo Mỹ được gọi là Air Force One, còn trực thăng cho nguyên thủ này công du ngắn thì được gọi là Marine One. Cũng chính vì nghĩa này mà chiếc ôtô đặc chủng của ông có tên là Cadillac One.

Mỗi lần Air Force One cất cánh đều được coi là đang thực thi một nhiệm vụ quân sự. Chiếc máy bay được chính phủ đặt hàng hãng Boeing chế tạo riêng, có khả năng phòng thủ cao nhờ các thiết bị chống tên lửa gắn kèm.

Hệ thống thông tin liên lạc trên Air Force One cũng cực kỳ hiện đại và có tính bảo mật tuyệt đối, giúp tổng thống Mỹ có thể điều hành công việc bình thường khi đang ở độ cao 13 km. Trên máy bay có 87 đường điện thoại khác nhau, trong đó có 28 đường tuyệt mật được mã hóa.

Tổng thống Mỹ đầu tiên sử dụng Air Force One là John Kennedy với một phiên bản của chiếc Boeing 707. Hai chiếc đang phục vụ nhà lãnh đạo Mỹ hiện nay là phiên bản của loại Boeing 747 có kích thước lớn hơn. Trên mỗi chiếc đều sơn cờ Mỹ ở phần đuôi và chữ United States of America (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) ở phần thân.

Wikipedia.
Tổng thống Mỹ George Bush cùng Thượng nghị sĩ Johny Isakson trên chiếc Air Force One. Ảnh: Wikipedia.

Một số thông số chính của Air Force One: Phi hành đoàn 26 người (3 phi công còn lại là tiếp viên), dài 70,4 m, cao 19,4 m (tương đương hơn tòa nhà 5 tầng), sải cánh 59,6 mét, tốc độ tối đa 1.015 km/h, bay liên tục không phải tiếp dầu 12.550 km và trần bay là 13.700 m.

Trên chiếc Air Force One, nhân vật VIP được bố trí ngồi phía trước, tiếp đến là các trợ lý và phía sau cùng là các phóng viên tháp tùng. Máy bay có hai phòng bếp lớn sẵn sàng phục vụ khách vào mọi thời điểm. Khi không phục vụ, Air Force One nghỉ đỗ tại căn cứ không quân Andrews, bang Maryland, cách Nhà Trắng không xa.

Chuyên cơ của Trung Quốc

Công tác vận chuyển bằng đường không đối với chủ tịch hoặc các quan chức cao cấp của chính phủ Trung Quốc thì do hãng hàng không quốc gia Air China đảm trách.

Một chiếc Boeing 747-400 thường được sử dụng để phục vụ các chuyến công du xa của nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Khi thực hiện những chuyến đi có độ xa trung bình thì một chiếc Boeing 767 được huy động, còn các chuyến công du gần đã có một chiếc Boeing 737-800 sẵn sàng.

Airliners.
Một chiếc Boeing 767-300ER của Air China. Ảnh: Airliners.

Chính phủ Trung Quốc từng đặt mua một chiếc Boeing 767-300ER cho Chủ tịch Giang Trạch Dân sử dụng năm 2000. Nhưng một năm sau xảy ra vụ rắc rối mang tính quốc tế liên quan đến chiếc máy bay này. Trung Quốc tuyên bố họ phát hiện có 27 con bọ điện tử nghe lén cài bên trong máy bay.

Bắc Kinh khi đó tin rằng chiếc máy bay hai động cơ này đã bị CIA gài bọ điện tử trong thời gian nó trải qua quá trình hoán chuyển để trở thành chuyên cơ tại San Antonio, bang Texas. Các máy nghe lén được giấu dưới các ghế ngồi, phòng vệ sinh và sàn máy bay.

Nhưng CIA và cả tổng thống Mỹ đều tuyên bố khẳng định họ không hề hay biết gì về thiết bị nghe lén nói trên. Có 22 sĩ quan quân đội và quan chức Trung Quốc giám sát việc chuyển đổi máy bay đã bị bắt vì cáo buộc tội tắc trách và ăn hối lộ.

Chiếc máy bay nói trên do hãng Boeing chế tạo và giao cho hãng hàng không Mỹ Delta Airlines tháng 6/2000 theo đơn đặt hàng. Ngay sau đó nó được bán lại cho Trung Quốc để hoán chuyển thành chuyên cơ chở lãnh đạo.

Nhiều nhà ngoại giao lo ngại sự kiện liên quan đến máy nghe trộm sẽ ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ Trung – Mỹ và danh tiếng của hãng Boeing ở thị trường đông dân nhất thế giới. Tuy nhiên, sau vụ rắc rối mối quan hệ song phương vẫn tốt đẹp và Trung Quốc quyết định mua chiếc Boeing 767-300ER.

Nhưng chiếc máy bay này không bao giờ được sử dụng làm chuyên cơ cho lãnh đạo nữa. Nó được thiết kế trở lại như máy bay tiêu chuẩn ban đầu và giao cho hãng hãng hàng không Air China khai thác như một máy bay chở khách thông thường.

Máy bay của tổng thống Nga

Airliners.
Chiếc chuyên cơ Ilyushin Il-96-300 đang chở Tổng thống Nga Vladimir Putin hạ cánh xuống sân bay Munich, Đức, hôm 11/10/2006. Ảnh: Airliners.

Hoạt động đi lại bằng máy bay của tổng thống do Công ty vận tải quốc gia Nga (Russian State Transport Company) phụ trách. Cơ quan này điều hành hai chiếc Ilyushin Il-96-300 chuyên dành để vận chuyển người đứng đầu điện Kremlin.

Ilyushin Il-96 là loại máy bay thân rộng tầm xa 4 động cơ do Nga chế tạo và có một số phiên bản khác nhau. Chuyên cơ dành cho Tổng thống Nga Vladimir Putin hiện nay là phiên bản Ilyushin Il-96-300.

Một số thông số chính của chiếc Ilyushin Il-96-300: Dài 55,3 mét, sải cánh 60,11 mét, cao 17,5 mét, tầm bay 11.000 km (đủ sức bay thẳng từ Matxcơva tới các thành phố bên bờ biển phía tây nước Mỹ).

Chuyên cơ chở tổng thống Nga từng gặp một sự cố nghiêm trọng trong chuyến thăm Phần Lan tháng 8/2005. Chiếc Ilyushin Il-96-300 bị trục trặc tại bộ phận phanh, buộc Tổng thống Putin phải sử dụng máy bay dự phòng để về nước.

Sau sự cố trên, ngày 22/8/2005 Nga quyết định tạm ngừng khai thác tất cả những chiếc Ilyushin Il-96-300 cho đến ngày 3/10 để kiểm tra an toàn. Sự kiện này gây thiệt hại lớn về tài chính cho Aeroflot, hãng sở hữu 6 trên tổng số 13 chiếc máy bay loại này.

Các chuyên cơ của Nhật Bản

Airliners.
Một trong hai chiếc chuyên cơ Boeing 747-47C của Nhật Bản. Ảnh: Airliners.

Nhật Bản sử dụng hai chiếc Boeing 747-47C chuyên dành cho thủ tướng, Nhật hoàng cùng hoàng hậu và các quan chức cao cấp của chính phủ đi lại. Lực lượng không quân thuộc Cục phòng vệ Nhật Bản phụ trách việc điều hành hai chiếc phi cơ đặc biệt này.

Những chiếc chuyên cơ đều được sơn dòng chữ “Nhật Bản” bằng tiếng Nhật và bằng tiếng Anh trên thân máy bay. Một vạch màu đỏ chạy ngang các cửa sổ máy bay từ phần mũi cho đến tận đuôi. Trên hai cánh máy bay và phần đuôi còn có hình biểu tượng mặt trời (Hinomaru).

Hai chiếc máy bay chuyên chở lãnh đạo Nhật đều nghỉ đỗ tại sân bay New Chitose gần Sapporo, nhưng chúng thường xuyên hoạt động tại sân bay Haneda ở Tokyo.

Máy bay chở thủ tướng Australia

Năm 2002, không quân Australia mua hai chiếc máy bay mới vốn được đặt hàng làm máy bay riêng cho các doanh nhân do hãng Boeing chế tạo. Loại máy bay gọi tắt là BBJ này được chuyển đổi từ phiên bản Boeing 737, trên đó các hàng ghế thông thường được thay bằng những chiếc bàn họp, phòng làm việc, phòng ngủ và hệ thống liên lạc bảo mật.

Nội thất một chiếc BBJ tương tự chuyên cơ của thủ tướng Australia. Ảnh: Pjsgroup.

Australia dành hai chiếc máy bay trên để các quan chức cấp cao như thủ tướng, ngoại trưởng và toàn quyền đi công cán. Những chuyên cơ được hãng Boeing cải tiến giúp chúng có khả năng bay xa hơn so với các máy bay cùng loại. Thủ tướng John Howard thường sử dụng chiếc chuyên cơ này để đi lại trong và ngoài nước.

Chuyên cơ của Australia cũng luôn sẵn sàng được trưng dụng để phục vụ cho các thành viên trong gia đình hoàng gia Anh mỗi khi họ tới xứ sở của loài chuột túi. Mới đây nhất, Thái tử Anh Charles đã đi trên chiếc máy bay này năm 2005 và Nữ hoàng Elizabeth cũng từng sử dụng nó trong năm 2006.

Phi đội số 34 của không quân Australia phụ trách điều hành các chuyên cơ và đóng căn cứ tại Fairbairn, Canberra. Trước khi Australia mua hai chiếc BBJ trên, thủ tướng nước này thường bay trên những chiếc Boeing 707 được lực lượng không quân cải biến thành chuyên cơ. So với BBJ, loại Boeing 707 có kích thước nhỉnh hơn một chút.

Ngoài những chiếc Boeing, trong đội chuyên cơ chuyên dành cho các VIP của Australia còn có một đội máy bay Bombardier Challenger. Tất cả các chuyên cơ tại nước này khi làm nhiệm vụ chở toàn quyền Australia, thành viên gia đình hoàng gia Anh hay thủ tướng Australia đều được gọi bằng biệt danh Commonwealth One.

Phần 2

Con đường tơ lụa (5)

Con đường tơ lụa (phần 5)

Ảnh từ
Lạc đà đi giữa lườn núi cát Minh Sa sắc nhọn tựa lưỡi dao. Ảnh: từ Tuổi Trẻ.

Cách Đôn Hoàng 5km về phía nam, địa danh Minh Sa Sơn có thể khiến mọi người nghĩ ngay đến núi. Thật ra, Minh Sa Sơn gồm hai vùng: một khu vực đá bao gồm hệ thống hang động Mạc Cao và một vùng núi cát còn có tên gọi khác là Thần Sa Sơn, Sa Giác Sơn, tất cả chỉ là cát.
> Phần 4

Cát nhấp nhô như rồng núi cuộn mình, nằm ngoằn ngoèo hơn 40km. Đỉnh cát cao 250m, hiểm trở, lườn cát sắc nhọn tựa lưỡi dao sáng dưới nắng vàng óng ánh. Mà cũng có thể gọi là biển, vì khi đã bước chân vào đây, bạn sẽ thấy mình ngập chìm trong mênh mông cát, không rõ từ đâu về đâu.

Một tảng đá to khắc ba chữ Minh Sa Sơn báo hiệu lối vào sa mạc. Vé vào sa mạc có giá 120 tệ, và phải thuê một đôi ủng vải màu cam sặc sỡ với giá 10 tệ để có thể đi lại trên cát. Người ta bán đủ những thứ bạn cần cho một cuộc hành trình vào nơi gió cát: nón, kính mát, nước suối. Một lời dặn đáng sợ của hướng dẫn viên trước lúc khởi hành: đừng để rơi bất cứ thứ gì xuống cát, cát sẽ nuốt mất ngay, không bao giờ tìm lại được! Cánh đàn ông mọi quốc tịch nghe đến mấy chữ “không bao giờ tìm được” là nghĩ ngay đến vợ ở nhà!

Vào sa mạc tất nhiên phải thuê lạc đà, 60 tệ một con, mỗi con đều có bảng số riêng, và đi thành tốp do một người dẫn đường, họ thường đi bộ.Yên lạc đà là một tấm thảm dày, đặt giữa hai bướu, có hai thanh gỗ dài nẹp hai bên, lại có bàn đạp để chân, có vòng sắt để làm tay cầm. Lên xuống lạc đà cũng là một kỳ công. Vì những “con thuyền sa mạc” này đứng lên, nằm xuống bao giờ cũng theo ba nhịp: khuỵu gối trước, hạ chân sau, hạ chân trước (và ngược lại, nếu đứng lên) khiến người trên yên cũng phải ba lần “sấp ngửa” chúi về trước, lại ngã về sau, rồi lại lao về trước.

Chúng tôi nối nhau tiến vào sa mạc như những đoàn thương buôn năm xưa trên đường vạn lý. Cảnh tượng thật hùng vĩ, lãng mạn và thơ mộng giữa vô hạn nắng và cát. Tôi thật biết ơn tiếng chuông lạc đà, như khúc nhạc của người bạn đường chung thủy. Mọi âm thanh giữa biển cát đều mất hút theo gió, duy chỉ có tiếng chuông vang vang ấy là giữ được trong lòng sự bình yên trước nỗi cô đơn sợ hãi của phận người như một hạt cát giữa vô cùng thời gian.

Đi vào biển cát, chúng tôi như lạc vào thế giới của sắc độ sáng tối, mà hóa công là nghệ sĩ nhiếp ảnh bậc thầy. Có lớp lớp đụn cát như dãy nón bài thơ úp trên bãi biển, có dáng núi như bộ ngực, bờ lưng người phụ nữ ta chưa từng được gặp. Gió mài cát thành thấu kính lõm phẳng như tuyệt đối để gọi ta đến gần. Nhưng khi ta đến nơi, gió đã vẽ lên cát những muôn vàn hoa sóng. Có đoạn, gió khắc cát thành nham thạch. Có đoạn, cát chảy trên cát thành dòng, như họa tiết của đá trên đá. Có đoạn, hai bên trên dưới đều là những taluy cát dốc cao tối sẫm, chỉ có lối đi ở giữa, vừa đủ bước chân lạc đà… Và gió lạnh khiến ta cũng quên mình đang bị nhuộm nắng.

Có lúc chúng tôi tạm rời lạc đà để leo lên núi cát. Dốc cát khó leo, bước chân như bị hút sâu xuống, như bị kéo lùi ra sau theo dòng cát trôi xuôi. Dấu chân mình sớm muộn gì cũng bị biến mất như chưa hề xuất hiện. Và cảm giác một thân một mình không biết bám víu vào đâu khiến ta thấy mình nhỏ nhoi hơn bao giờ hết. Nhưng gió chờ trên đỉnh cao chiêu đãi mọi người niềm vui chinh phục. Trên ấy có đủ các trò chơi cho những ai muốn tìm cảm giác lao mình xuống: tàu lượn trên không, môtô trượt cát, phao trượt cát. Rồi chúng tôi cũng lao theo máng tre trượt cát để thử một lần nghe gió hát sau lưng.

Hồ Nguyệt Nha giữa biển cát. Bên hồ có các công trình kiến trúc nhà Thanh như chùa Minh Sơn, cung Tam Thanh, miếu Dược Vương. Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Minh Sa có nghĩa là cát kêu. Cát nơi đây hình hạt gạo, sắc vàng. Vào ngày nắng đẹp, gió cát vang lên âm thanh như tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng trống rất lạ tai. Vào ban đêm, có lúc gió nổi, cát bay chạm vào nhau thành những đốm hoa lửa rất lạ mắt. Ngạc nhiên hơn nữa, giữa sa mạc cát lại có một hồ nước trong xanh, bốn mùa không cạn, dáng như ánh trăng lưỡi liềm, được gọi là Nguyệt Nha Tuyền.

Điều chưa thể giải thích nổi là ngàn năm qua, núi cát vẫn không thay hình đổi dạng, và dù bão cát đến thế nào vẫn không vùi lấp được hồ Nguyệt Nha. Cát bay xong vẫn trở về chốn cũ. Hiện tượng cát kêu, hoa lửa và gió vòng kỳ bí cùng với hang động Mạc Cao kỳ vĩ đã biến Đôn Hoàng cổ đại thành miền đất Phật linh thiêng, nhất định ai ai đến đây cũng phải ghé qua, như cuộc hành hương về đất thánh.

Chúng tôi kết thúc một ngày khó quên nơi vùng sa mạc bằng bữa tiệc thịt dê tại Dương Gia Kiều thôn, trong căn nhà khang trang của lão tiên sinh Trương Hóa Quân. Ông tự xưng là nông dân, nhưng nhà lại có thư phòng, trong thư phòng có bút mực và nghiên giấy và đã có một cuộc đàm đạo về thư pháp giữa ông Trương và anh Lữ Trung Đạt, giám đốc Công ty giấy Lệ Hoa, thành viên trong đoàn. Trong cơn vui và say chữ nghĩa, chúng tôi bước vào bữa tiệc với dê quay nguyên con trong hầm lò đốt bằng củi gỗ cây táo dựng sau vườn nhà ông Trương.

Theo đúng tục lệ ở đây, khi đầu dê quay tròn mấy vòng rồi dừng lại trước đôi vợ chồng doanh nhân trẻ mới cưới Quang Thuận – Quỳnh Trâm, chúng tôi sung sướng với dịp may hiếm có, được chúc phúc bằng ly rượu cao lương (cũng cất ngay trong vườn nhà họ Trương) cho hai bạn mình đang hưởng tuần trăng mật với hành trình xuyên Tây Bắc Trung Hoa.

(Theo Tuổi Trẻ

Con đường tơ lụa (4)

Con đường tơ lụa (phần 4)

Một góc chuỗi hang động Mạc Cao. Ảnh: D.Trường / Tuổi Trẻ.

Đôn Hoàng nằm ở vùng “ngã ba” Cam Túc giáp Tân Cương và Thanh Hải. Trong khi thủ phủ Lan Châu chỉ có máy bay nội địa thì Đôn Hoàng đã có sân bay quốc tế, đón khách năm châu đến với di sản thế giới hang động Mạc Cao nhộn nhịp bốn mùa.
> Phần 3

Đặc biệt ưa thích Đôn Hoàng có thể nói là du khách Nhật. Có người năm nào cũng đến, mỗi lần đến ở cả tuần và vào thăm hang động Mạc Cao 5-6 lần. Người Nhật bỏ tiền cùng với Trung Quốc làm phim về Đôn Hoàng. Cần nói ngay là khi các bạn đến đây, thấy trong các tour du lịch có quảng cáo địa điểm “Đôn Hoàng cổ thành” thì xin nhớ ngay cho đó chỉ là thành giả cổ, là phim trường dựng lại (vào năm 1987) với diện tích chỉ bằng phân nửa thực tế, để quay bộ phim trên. Nay đã mở cửa đón khách để mọi người hình dung cảnh cũ và mua vui bằng cách cưỡi ngựa, bắn cung, hay hóa trang làm vua, làm tướng, làm hoàng hậu, cung phi… của một thời đã xa.

Linh hồn của Đôn Hoàng là chuỗi hang động Mạc Cao cách trung tâm thành phố khoảng 30km chạy ven sa mạc. Đó là một quần thể hàng ngàn hang động do không biết bao nhiêu con nguời đục khắc vào sườn núi đá dài khoảng 1.600m suốt hơn ngàn năm, qua 10 triều đại (từ Đông Tấn, Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ Đại đến Tống, Tây Hạ, Nguyên Mông). Chỉ riêng thời nhà Đường đã có hơn ngàn hang động.

Tất cả đều để chiêm bái, thờ cúng Phật tổ và các vị bồ tát, cũng là để gửi gắm lời cầu mong được về với Phật sau khi rời khỏi trần đời. Có người góp của hay đi quyên tiền. Có người tự nguyện đục đá, tạc tượng suốt mấy năm. Có khi một người đào một hang, có khi cả gia đình, cả dòng họ cùng làm một động. Có hang cao hơn 40m, có hang chỉ chừng 1m.

Thời gian đã bào mòn, vùi lấp vô số, đến nay còn 492 hang động đã được đánh dấu, bảo quản và nghiên cứu. Nhưng chỉ với số hang động còn lại cũng đủ làm du khách sửng sốt, kinh ngạc trước sức sáng tạo của người xưa.

Cổng vào chuỗi hang động có tên là “Thạch thất bảo thành” với con đường rợp bóng cây. Mọi máy quay phim, máy chụp ảnh đều phải gửi ở bên ngoài. Những dãy hành lang có lan can được dựng cặp theo sườn núi, dẫn lối đi thăm hệ thống các hang động vốn được người xưa xây dựng san sát bên nhau, có chỗ dày đặc chồng chất trên dưới đến năm tầng. Mỗi hang động đều được đánh số, có bảng “lý lịch” kèm theo rất công phu (xây dựng đời nào, trùng tu đời nào, đặc điểm văn hóa, nghệ thuật…) và có cửa khóa chặt! Các cô hướng dẫn viên ở đây mặt tươi như ngọc, da trắng như tuyết, giọng nói to rõ và ngọt như dưa lê.

Mỗi cô tay cầm đèn pin và một xâu chìa khóa, mở cửa và thuyết minh riêng cho tốp khách do mình dẫn đường. Giá vé 160 tệ, du khách được tham quan mười điểm trong khoảng bốn giờ, trong đó có năm hang động bắt buộc và năm điểm tự chọn hay thỏa thuận theo gợi ý của hướng dẫn viên. Trong ánh sáng mờ tối hòa với ánh đèn pin và giọng thuyết minh lung linh, một thế giới nghệ thuật mang sức nặng tâm linh giữa lòng đá núi kỳ vĩ hiện ra thật ấn tượng.

Cửu tầng lầu nhìn từ bên ngoài, bên trong là tượng Phật Di Lặc cao 35,5m. Ảnh: từ Tuổi Trẻ.

Năm 366, khi hòa thượng Nhạc Tôn (có tài liệu ghi là Lạc Tăng) đi qua sa mạc Minh Sa lúc trời chiều, chợt thấy nơi dãy núi đá Tam Nguy phát ra ánh sáng rực rỡ như muôn nghìn Phật hiện lên giữa lấp lánh kim quang, liền chọn nơi đây làm nơi dừng chân, phát nguyện đào tạc động đá thành nơi tu hành.

Sau đó, có hòa thượng Pháp Lương khai mở hang động thứ hai. Không ai ngờ rằng ốc đảo xanh tươi nhỏ nhoi giữa biển cát mênh mông này dần dần trở thành thánh địa, ánh đèn thờ Phật lấp lánh, khói lam lòng thành lan tỏa ngày đêm và động đá cứ ngày một nhiều lên. Các nhà truyền bá Phật giáo vượt qua sa mạc hàng tháng trời trong nắng gió vất vả và hiểm nguy đều dừng chân nơi đây nghỉ ngơi và hành đạo.

Các đoàn thương lữ trước khi xuất quan cũng dừng lại nơi này chuẩn bị lương thực thực phẩm cho một chuyến đi xa, đồng thời để dâng hương lễ Phật, cúng dường, cầu mong bình an, tài vượng. Còn các thương khách khi trở về vô sự cũng ghé qua đây cảm tạ Phật tổ, bồ tát độ trì. Cơ duyên hội tụ đã biến Mạc Cao thành “Thiên Phật động” vang danh ngàn dặm.

1.600 năm đã qua. 492 hang động, hơn 3.000 bức với khoảng 4,5 vạn m2 bích họa, hơn 2.000 pho tượng Phật, hơn 4 vạn văn thư, văn vật và năm tòa kiến trúc gỗ còn giữ lại được đến hôm nay đã khiến Mạc Cao, Đôn Hoàng trở thành một “cung văn hóa nghệ thuật” khổng lồ. Vừa đồ sộ, hoành tráng, vừa tinh vi, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Đó là “bộ bách khoa thư” về lịch sử, văn hóa của Phật giáo cổ đại với mỹ thuật (bích họa, phù điêu, tượng màu), kiến trúc (hang động, gỗ đá) và vũ nhạc (trên bích họa và kinh sách). Để chiêm ngưỡng cho hết, cần một phần đời! Để thấu hiểu cho sâu, cần nhiều đời người!

Rời hang động Mạc Cao, tôi chợt nhận ra ngay sức nhìn, sức nghe, sức cảm và sự hiểu biết của chính mình hạn hữu biết chừng nào!

 5 hang động giới thiệu với khách tham quan

* Tàng kinh lầu, rộng chỉ 19m2, năm 1.900 phát hiện trong hang này chứa hơn 5 vạn kinh sách, văn thư, tranh lụa, đồ thờ cúng.

* Kim bích động, thời nhà Đường, với các bức bích họa được tô bột vàng, dát vàng lá, thể hiện văn hóa Tây Vực.

* Cửu tầng lầu, tượng Phật Di Lặc khắc vào vách núi, cao 35,5m, bên ngoài có tháp bao bọc, cao chín tầng, nghệ thuật thời Đường.

Tượng Phật Di Lặc, cao 26m, đục hẳn trong núi, nền sâu dưới mặt đất 10m để ngắm từ dưới lên, hai bàn tay Phật được điêu khắc đẹp mệnh danh là “Đông phương đệ nhất mỹ thủ”.

* Tượng Phật tổ nằm, động đục âm vào đá theo hình dáng quan tài, tượng Phật tổ tư thế nằm, đầu hướng nam, chân hướng bắc, chiều dài 15m, chung quanh là các bích họa kể chuyện đức Phật nhập Niết bàn. 

Con đường tơ lụa (3)

Con đường tơ lụa (phần 3)

Gia Dụ Quan. Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Con đường tơ lụa là nơi chạm mặt kỳ thú giữa các nền văn minh cổ đại, nhưng cũng đẫm máu chiến tranh, xung đột, cướp bóc. Số phận con đường này luôn gắn liền với ước vọng hòa bình và dãy trường thành chạy dài theo dòng lịch sử.
> Phần 1 / Phần 2

5h sáng, tàu dừng tại nhà ga Gia Dụ Quan sau 18 giờ đi kể từ Tây An. Thành phố này nổi tiếng nhờ mang tên cửa ải Gia Dụ Quan, nhưng lại “sống” bằng gang thép, phát triển theo công thức “đại xí nghiệp, tiểu thành thị”.

Hướng dẫn viên cho biết có đến 70% người dân thành phố làm việc tại Công ty gang thép Tửu Tuyền – cơ sở lớn nhất vùng tây bắc Trung Quốc. Những con đường nơi đây rộng thoáng, yên tĩnh, sạch sẽ, và đẹp như lụa mềm nhờ những hàng cây đang vào thu. Mỗi con đường một loại cây, liễu xanh, quốc hoài vàng, bạch dương có xanh có trắng.

Gia Dụ Quan là cửa ải cực Tây, kiểm soát con đường ra vào Tây Vực, được quan quân nhà Minh xây dựng theo tuyến bắc nam. Phía bắc là Huyền Bích trường thành dài 8,6 km chạy đến Hắc Sơn, phía nam là Minh Tường trường thành dài 7,6 km, dẫn đến vực sâu do dòng sông băng Thảo Lại Hà làm thành một hào lũy tự nhiên. Tâm điểm là thành Gia Dụ Quan, vừa là cửa ải vừa là đồn binh.

Khi chúng tôi đến thăm Huyền Bích, những chiếc lá bạch dương gieo sắc thu lên một góc trường thành vắng lặng. Một đôi tình nhân nắm tay nhau đi lên hướng Hắc Sơn, trên đó, bên vách núi đá đen còn giữ lại giữa trời nhiều hình trái tim khắc lồng với những lời thề hẹn yêu thương.

Người ta dựng cái cổng kiểu quan ải, đặt tên là Thủy Môn. Mở một đoạn trường thành chừng hơn hai cây số chạy lên đỉnh núi cho du khách có cơ hội in bóng mình lên bóng trường thành và phóng tầm mắt nhìn ra sa mạc mênh mông. Lại mở ra một lối đi bằng bậc đá để du khách rời trường thành từ trên cao vòng xuống chân núi, đến với quảng trường mang tên “Tơ lụa cổ đạo”.

Một quần thể tượng đài để nhắc nhớ tên tuổi những nhân vật lịch sử đã từng qua đây: dẫn đầu là Trương Khiên, rồi Hoắc Khứ Bệnh, Ban Siêu (thời Tây Hán), Đường Huyền Trang, Marco Polo, đến Lâm Tắc Từ, Tả Tống Đường (nhà Thanh). Nếu Huyền Bích dẫn lên núi cao thì dãy Minh Tường lại chạy ngang qua vùng đất bằng, đã bị thời gian làm hoang phế. Mọi người chen nhau chụp ảnh bên bia đá khắc mấy chữ “Vạn lý trường thành đệ nhất đôn” với một phong hỏa đài đổ nát còn sót lại. Đây là đoạn thứ nhất, đầu mút của Minh Tường trường thành. Một địa đạo dẫn du khách đi ra một “ban công” để nhìn rõ vực sâu của sông băng Thảo Lại Hà mùa này đã thành dòng nước chảy xiết, và dãy núi tuyết Kỳ Liên nơi xa đang phơi mình trong nắng thu.

Chúng tôi có cả một buổi sáng để một lần làm thương khách đời xưa, “xuất cảnh” qua biên ải. Nói là cửa ải, nhưng Gia Dụ Quan thực là một thành lũy, gồm nhiều lớp thành vững chắc kiên cố, uy nghiêm soi bóng lên sa mạc, nhất là lúc trời chiều, khi mặt trời cũng “xuất quan” về hướng tây, quả xứng danh “Thiên hạ hùng quan”. Trong thành có quan đạo lát gạch dành cho quan, có dân đạo nền đất là lối đi riêng của dân chúng và thương buôn; có mã đạo, đường dốc xếp đá cho ngựa chạy lên mặt thành khi chiến đấu. Lại có điện thờ Quan Công với thanh long đao và ngựa Xích thố, và một rạp hát mini.

Chúng tôi đi qua thành theo chiều đông tây. Cửa đông có tên Quang Hóa Môn dẫn vào trung tâm thành. Tường cao, âm thanh có thể dội đá thành tiếng vọng bay lên mặt thành. Thành có địch lâu, tiễn lâu, đài quan sát. Phủ tướng quân nằm gần mé tây, với tên của 18 vị tướng đã trấn nhậm nơi này. Cửa tây có tên Nhu Viễn Môn, đóng mở theo lịch của mặt trời mỗi ngày. Con đường xuất quan rộng chừng 3m, lát những phiến đá rộng, oằn mình ghi lại vết lõm của thời gian trên dấu xưa. Con đường ấy dẫn ra sa mạc sáng lóa, không bến không bờ.

Huyền Bích trường thành chạy dài lên đỉnh Hắc Sơn, thành phố Gia Dụ Quan (Cam Túc). Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Đã có Gia Dụ Quan sao còn có Ngọc Môn Quan? Ấy là vì Trung Hoa thời Hán Đường cương vực mở rộng về phía tây, đến tận vùng Đôn Hoàng. Và ngoài Ngọc Môn Quan còn có Dương Quan. Khi đến đây, du khách sẽ có dịp đi dọc những đoạn trường thành thời nhà Hán tuy đã thành phế tích nhưng vẫn còn lặng lẽ góp mặt cùng sương gió, chứng kiến thế sự hơn 2.000 năm qua.

Ngọc Môn Quan bây giờ đã là phế tích, nằm chơ vơ trên đồi nắng, làm bạn với gió và những bụi cỏ có tên “cỏ gai lạc đà” vì chỉ có lạc đà mới có thể nhấm nháp được chúng mà thôi. Bên kia đồi là một hồ nước trắng bạc một màu sương tuyết, xa xa là trập trùng núi.

Anh hướng dẫn viên họ Dương đứng trên đồi đọc bằng tiếng Hoa bài thơ Lương Châu từ (có sách gọi là Xuất tái) của Vương Chi Hoán: “Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian/ Nhất phiến cô thành vạn nhận san/ Khương địch hà tu oán dương liễu/ Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan” (Hoàng Hà treo ngọn giữa mây xanh/ Vạn bậc non cao một mảnh thành/ Sáo rợ buồn chi lời chiết liễu/ Gió xuân chẳng vượt Ngọc Môn Quan – Nguyễn Hiến Lê dịch thơ).

Giọng anh rất hùng hồn, mạnh mẽ, dứt khoát, nhưng gió hoang mạc đã bóp méo nó thành một âm điệu buồn thương không thể tả được. Người xưa khi chia tay thường bẻ cành liễu (chiết liễu) để lưu luyến ly biệt. Người lính nơi biên ải nghe tiếng sáo, lòng càng buồn đau nỗi xa nhà, chốn biên quan cô quạnh, gió xuân không đến được nơi này.

Có lẽ buồn nhất nơi đây là vào những đêm trăng? Mênh mông chỉ là tiếng gió, gió khóc, gió nấc, gió sụt sùi cho nỗi niềm ly hương của người lính cô đơn giữa trăng lạnh? Lại nhớ đến hai câu thơ của Lý Bạch khi “kể chuyện” Vương Chiêu Quân cống Hồ: “Nhất thướng Ngọc quan đạo/ Thiên nhai khứ bất qui”. (Một khi đã bước lên cửa ải Ngọc Môn là đi mãi về phía chân trời không trở lại. Người ơi, có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau chia xa, mịt mù ngày về đoàn tụ).

Con đường tơ lụa (2)

Con đường tơ lụa (phần 2)

Phù điêu tượng đồng “Mã đạp phi yến” trên lối đi chính của công viên Tửu Tuyền. Ảnh: Lê Quang / Tuổi Trẻ.

Từ nhà ga Tây An ồn ào, náo nhiệt, chuyến tàu K591 đưa chúng tôi đi vào dải đất yết hầu nối liền Trung nguyên với Tây vực, mang tên hành lang Hà Tây (hay còn gọi là hành lang Cam Túc).
> Phần 1

Bữa trưa trên toa nhà ăn tiện nghi và lịch sự là một đĩa thịt bò xào với khoai tây nấu theo kiểu vùng cao, giá 25 tệ (2.200 đồng/tệ), lạ miệng nên khó ăn. Nhưng đổi lại, được chiêu đãi một bữa tiệc phong cảnh Đại Tây Bắc hùng vĩ qua cửa kính tàu lửa.

Lúc này, trời trưa sáng nắng nhưng nhiệt độ bên ngoài chỉ hơn 10OC. Đường đèo quanh co chạy theo những taluy đá khổng lồ hoặc băng qua những chiếc cầu bêtông cao ngất. Có lúc tàu xuyên núi liên tục, chỉ vài phút lại hầm nối hầm. Nhà cửa hiếm thấy, trừ vài thị trấn nhỏ với những chung cư hình hộp đơn giản, cũ kỹ, hoặc những căn nhà gạch nâu, mái ngói thấp và những đụn cỏ chất cao ngang mái nhà. Ngạc nhiên khi thấy trên sườn núi những gian nhà đục âm vào đá, trần hình vòm, hỏi ra mới biết đó là dãy nhà kho chứa hàng hóa, lương thực.

Ấn tượng hơn là rất nhiều công trình mở đường, dựng cầu, khai khoáng, truyền tải điện… ngổn ngang gạch đá, loang loáng sắt thép giữa núi đồi hoang vắng, tỏ rõ quyết tâm “đại khai phá miền Tây” của người Trung Quốc.

Hành lang Hà Tây là một dải đất hẹp và dài khoảng 1.200km, rộng chừng 100km, được người xưa mô tả như thơ: “Bắc thông sa mạc, Nam vọng Kỳ Liên, Đông nghinh Hoa Nhạc, Tây đạt Y Ngô” Nghĩa là nó bắt đầu từ Hoa Sơn, phía đông thành phố Tây An (Thiểm Tây), chạy dọc theo suốt tỉnh Cam Túc đến tận Y Ngô (tức Hợp Mật, tỉnh Tân Cương) theo hướng đông nam – tây bắc.

Đi giữa một bên (phía bắc) nhìn ra mênh mông biển cát, với các sa mạc Tenggeli, Badain Jaran thuộc hệ thống sa mạc Gobi thông ra Nội Mông; với một bên (phía nam) là dãy núi tuyết Kỳ Liên Sơn chạy dài như bất tận. Xem ra chính thiên nhiên đã mở sẵn một lối đi cho con đường tơ lụa chọn lấy mà nên dạng nên hình.

Khi tàu dừng tại nhà ga Lan Châu, chúng tôi có đúng 10 phút đặt mấy bước chân mình lên thủ phủ của Cam Túc trong cái rét thở ra khói để kỷ niệm một lần qua đây! Tiếc là vì trời tối nên chúng tôi không chứng kiến được giây phút vượt qua Hoàng Hà, con sông khởi nguyên của nền văn hóa Trung Hoa.

Lý Bạch trong bài thơ ngũ ngôn “Tái hạ khúc” (Khúc hát dưới quan ải, gồm sáu khúc) đã dành hẳn một khúc để ca ngợi Hoắc Khứ Bệnh, một danh tướng thời Tây Hán: “Ngựa bay như gió vút/ Quất roi rời Vị kiều/ Giương cung biệt trăng Hán/ Tên cứng nhắm giặc liều/ Trận xong sao trời tắt/ Doanh vắng khói sương veo/ Gác lân ghi hình tích/ Là quan Hoắc Phiêu Diêu” (Ngô Văn Phú dịch).

Công tích và tên tuổi Hoắc Phiêu Kỵ đại tướng quân gắn liền với hành lang Hà Tây. Ông nhiều lần cầm quân qua đây chiến đấu chống giặc Hung Nô, lập đại chiến công, khiến “Hung Nô phải chạy trốn xa, toàn vùng nam sa mạc không còn vương triều”, một thời kỳ dài loại bỏ nạn can qua cho vùng đất này. Khi ông mất (lúc chỉ mới 24 tuổi), Hán Vũ Đế cho xây lăng mộ ông theo kiến trúc giống như dãy núi Kỳ Liên.

Nơi đây lưu dấu Hoắc Khứ Bệnh bằng một địa danh: Tửu Tuyền. Chúng tôi thuê một chuyến xe để tìm về thành phố Tửu Tuyền. Khi xe đi ngang vòng xoay trung tâm, chúng tôi đành tiếc rẻ chỉ nhìn từ xa “Tửu Tuyền chung cổ lầu”, vì lúc này cái tháp chuông trống nổi tiếng ấy đang phải rào chắn lại để trùng tu. Đổi lại, chúng tôi có thêm thời gian để thăm thú công viên “Tây Hán Tửu Tuyền thắng tích”.

Trên trục đường chính của công viên, dưới chân du khách là bức phù điêu đắp nổi thể hiện tượng đồng nổi tiếng “Mã đạp phi yến”, được xem là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ đại, đã đưa vào sách Trung Quốc nhất tuyệt. Tượng được tìm thấy năm 1976 trong một ngôi mộ cổ ở Võ Uy (Cam Túc), còn chúng tôi sau đó tìm thấy nó ở khắp nơi với nhiều kích cỡ, giá cả, chất liệu khác nhau tại đủ loại tiệm, sạp, quầy bán đồ lưu niệm tại Cam Túc!

Tượng đài Hoắc Khứ Bệnh hòa nước suối cùng binh lính uống rượu vua ban, tại công viên Tửu Tuyền. Ảnh: D.Trường / Tuổi Trẻ.

Linh hồn cùa công viên này là dòng suối ngọt chảy ra một giếng mang tên Tửu Tuyền (suối rượu). Tương truyền rằng chính nơi này hơn 2.000 năm trước, Hoắc Khứ Bệnh khi nhận được rượu vua ban thưởng đã hòa rượu xuống để chia đều cho binh sĩ cùng hưởng lộc vua, theo kiểu “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Người ta đã dựng một quần thể tượng đài hoành tráng theo hình vòng cung, ôm lấy một bên hồ rộng dẫn nước từ dòng Tửu Tuyền, tái hiện chuyện xưa bằng đá thật ấn tượng.

Nhưng điều làm say lòng du khách chính là nghệ thuật lâm viên, biến di tích lịch sử này thành một công viên tuyệt đẹp. Có cây dương, cây liễu hơn 300 tuổi trầm mặc suy tư. Có một dải tùng xanh thẫm soi rõ xuống hồ sức chịu đựng giữa giá rét. Và những thảm lá vàng của cây quốc hoài trên nền cỏ xanh đang rộn lên tiếng thu theo mỗi bước chân tình nhân chạm lên cỏ lá! Đúng là một bức thư họa làm mềm lòng khách phương xa hơn mọi thứ rượu nào trên đời mà tôi đã gặp.

Lối ra công viên lại là của nghệ thuật kinh doanh, vì dẫn đến một cửa hàng bán một loại ly uống rượu nổi tiếng: “Tửu Tuyền dạ quang bôi”, một sản phẩm thủ công làm từ một loại đá ngọc của Kỳ Liên Sơn. Ly mỏng như giấy, trong như gương, ánh trăng đêm có thể soi vào trong rượu. Dù cô bán hàng cười tươi như hoa, cầm nam châm hút ly để chứng tỏ đá thật, ngọc thật, nhưng nỗi lo hàng giả vẫn canh cánh bên lòng. Vậy mà, trong hành lý của tôi mang về, rốt cuộc cũng có mấy bộ ly này. Vì rằng, sao mà quên được bài Lương Châu từ của Vương Hàn: “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi…”

« 前の投稿